Thương Tâm Những Mãnh Đời Bất Hạnh

Mẹ là ngọn gió đưa êm Mẹ là dòng suối mơ huyền bao la.

Thương Tâm Những Mãnh Đời Bất Hạnh

Các em đã không có được những gì tưởng chừng là bình thường nhất, đơn sơ nhất.

Thương Tâm Những Mãnh Đời Bất Hạnh

Hãy quan tâm nhiều hơn tới trẻ em nghèo

Thương Tâm Những Mãnh Đời Bất Hạnh

Có tát cạn biển Đông mới tỏ tường lòng mẹ. Không trèo qua non Thái sao thấu hiểu tình cha

Thương Tâm Những Mãnh Đời Bất Hạnh

Con về quỳ giữa quê hương thầm hôn lên những bước đường mẹ qua

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

Ba Bao Gạo

Đây là câu chuyện chân thật về gia đình nghèo khổ, khi đứa con vừa bắt đầu đi học thì người cha qua đời, hai mẹ con cùng nhau dìu dắt nhau đi và dùng đống đất đỏ nhè nhẹ phủ lên để tiễn biệt người cha.

Người mẹ không đi thêm bước nữa mà ở vậy nuôi dưỡng con thơ. Lúc đó trong thôn chưa có điện, mỗi tối thằng bé thắp ngọn đèn dầu bé tí đọc sách, vẽ tranh. Người mẹ thì từng mũi kim sợi chỉ may vá đan áo cho con. Ngày tiếp ngày, năm kế năm những tấm bằng khen cứ đắp lên vách tường đất loang lổ của họ. Đứa con cứ như ngọn trúc xanh của mùa xuân vụt lên phơi phới, nhìn đứa con cao nhanh hẳn thì đuôi mắt mẹ cũng xuất hiện nhiều nếp nhăn mỗi lần cười khi nhìn thấy con nhận phần thưởng.

Nhưng dường như trời không thương mẹ con họ, khi đứa con vừa thi vào trường trung học của huyện thì mẹ bị bệnh phong thấp nặng. Việc đồng áng làm không nỗi, có khi cơm ngày hai bữa cũng không đủ ăn.Lúc đó học sinh ở trường trung học ỗi tháng phải nộp 30kg gạo. Đứa con biết mẹ không có khã năng nên nói với mẹ: “mẹ, con sẽ nghĩ học để giúp mẹ làm ruộng”. Mẹ vò đầu con, âu yếm nói: “con có lòng thương mẹ như vậy, mẹ rất vui, nhưng không đi học không thể được, yên tâm. Mẹ sanh con mẹ sẽ có cách nuôi con. Con đến trường ghi danh đi, mẹ sẽ mang gạo lên sau. Đứa con ngang bướng cãi lại, không chịu lên trường, người mẹ bực mình tát mạnh lên mặt con, đó là lần đầu tiên 16 tuổi trong đời bị mẹ đánh như vậy.
 
Ba bao gạo

Đứa con cuối cùng cũng cắp sánh đến trường,nhìn sau lưng con cứ xa xa dần theo con đường mòn, người mẹ vò tráng suy nghĩ. Không lâu, bếp của trường cũng nhận được gạo của người mẹ bệnh tật mang đến, Bà khập khễnh bước vào cổng, với hơi thở hổn hểnh từ trên vai thả xuống một bao gạo nặng trĩu. Người phụ trách nhà bếp mở gạo ra xem , hốt một vóc lên xem lập tức cột chặt miệng bao lại nói: “ bậc phụ huynh các người thích làm những việc có lợi cho mình.Bà xem gạo nè,có thóc có sạn có hạt cỏ…làm sao mà ăn”. Người mẹ ngượng ngùng đỏ cả mặt, nói lời xin lỗi. Người phụ trách nhà bếp không nói gì thêm mang gạo vào nhà.Người mẹ lại móc trong túi gở ra mấy lớp vãi lấy ra 5 tệ nói với người phụ trách : “đây là tiền phí sinh hoạt của con tôi tháng này làm phiền ông chuyển đến dùm. Ông đùa nói: “thế nào bà nhặt được trên đường đó à” bà mắc cở đỏ mặt nói cám ơn rồi quay lưng đi.

Rồi lại đến một tháng ,bà nhọc nhằn vác bao gạo đến nhà bếp, người phụ trách nhà bếp vừa nhìn gạo xong thì cột chặt lại, cũng là thứ gạo đủ màu sắc. Ông nghĩ, có lẻ lần trước do không dặn người này rõ ràng, ông nhẹ nhàng từng chữ nói với bà: “bất cứ thứ gạo gì chúng tôi đều nhận,nhưng làm ơn để rịêng ra,cho dù thế nào cũng không được để chung,như vậy chúng tôi không thể nào nấu được,nấu ra thì cơm sẽ bị sượng. Nếu lần sau còn như vậy tôi sẽ không nhận”. Bà hốt hoảng thành khẩn nói: “Thưa ông! gạo nhà tôi đều như vậy cả ,phải làm thế nào?” Người phụ trách đùng đùng nói: “ một sào ruộng nhà bà mà có thể trồng được cả trăm giống lúa như vậy à? thật buồn cười”. Bị la như thế bà không dám nói năng gì,lặng lẻ cúi đầu, người phụ trách cũng làm lơ để bà đi.

Đến tháng thứ ba,bà lại vất vã vác đến một bao gạo,vừa nhìn thấy người đàn ông la bà lần trước, trên mặt bà lại hiện lên nụ cười còn tội hơn là khóc. Ông ta vừa nhìn thấy gạo bỗng giận dữ quát lớn nói: “tôi nói vậy mà bà vẫn cứ như vậy không đổi. Sao mà ngoan cố, cũng thứ gạo tạp nhạp này, bà xem đi. Lần này mang đến thế nào thì mang về vậy!

Hình như bà đã dự đoán trước được điều đó,bà liền quỳ xuống trước mặt người phụ trách, hai dòng lệ trào ra trên khóe mắt, buồn bã nói: “ tôi nói thật với ông,gạo này là …tôi đi xin đấy, ông giật bén người, hai mắt tròn xoe nói không nên lời.

Bà ngồi phịch xuống đất, lộ ra đôi chân biến dạng, sưng húp… rơi lệ nói: “tôi bị bệnh phong thấp đi lại rất khó, không thể làm ruộng được. Con tôi đòi bỏ học giúp tôi, bị tôi đánh nên trở lại trường học.
Bà cầu xin người phụ trách làm thế nào vừa dấu bà con hàng xóm lại càng sợ đứa con biết được sẽ tổn thương lòng tự trọng của nó. Mỗi ngày trời còn chưa sáng bà len lén cầm cái bao chống gậy đi cách thôn khoảng 10 dặm để van xin lòng thưong của những người khác, rồi đợi trời thật tối bà một mình âm thầm về. 

Gạo bà xin được đều để chung vào. Tháng kế tiếp vừa mang gạo đến trường bà nhìn người phụ trách, chưa nói mà nước mắt lưng tròng. Ông đở bà dậy nói: “thật là ngừơi mẹ tốt,tôi sẽ lập tức đi trình với hiệu trưởng, để trường miễn học phí cho con bà”.Bà vừa nghe xong hốt hoảng lắt đầu nói: “đừng…đừng…nếu con tôi mà biết tôi đi xin để nuôi nó đi học sẽ làm nó tổn thương và như thế ảnh hưởng đến sự học của nó. Ông hiểu ý bà nói: “à, thì ra bà muốn tôi dấu kín điều này, được rồi, tôi nhớ”. Bà khập khểnh như người què quay lưng đi.

Cuối cùng thì hiệu trưởng cũng biết được sự việc với nét mặt hiền hoà nói: “vì gia đình bà quá nghèo ,trường sẽ miễng học phí và tiền sinh hoạt 3 năm. Ba năm sau , đứa con đã thi đậu vào trường đại học Thanh Hoa. Ngày tốt nghiệp, chiêng trống vang trời, hiệu trưởng đặc biệt chú ý người học sinh có hoàn cảnh khó khăn này và mời cậu ta lên lễ đài. Cậu ta khó chịu nói: “thi đạt điểm cao có rất nhiều, vì sao bảo em lên lễ đài?Lại càng làm mọi ngừời ngạc nhiên hơn là trên lễ đài đỗ liên tiếp ba hồi trống vang dội. Lúc đó người phụ trách nhà bếp cầm ba cái bao đựng gạo của người mẹ lên lễ đài kể câu chuyện Người mẹ đi xin gạo để nuôi con ăn học. Dưới lễ đài mọi người im bặt, Hiệu trưởng nhìn ba cái bao giọng hùng hồn nói: 
“Đây là câu chuyện ba cái bao của người mẹ đi xin,trên đời này đem vàng cũng không mua được những hạt gạo này, sau đây sẽ mời người mẹ vĩ đại đó lên lễ đài.

Đứa con trong lòng nghi nghi, nhìn lại phía sau xem, thấy ngừời phụ trách dìu mẹ từng bước từng bước tiến lên lễ đài. Lúc đó chúng ta không biết đứa con trong lòng nghĩ gì? Tin tưởng rằng sẽ làm cho cậu ta rung động nhưng không hãi hùng lo sợ. Thế là tuồng kịch tình mẫu tử ấm áp nhất đã được diễn ra. Hai mẹ con nhìn nhau, từ ánh mắt lấp lánh tình yêu thương của người mẹ, vài sợi tóc trắng bay bay trước trán. Đứa con bước đến trước, ôm chầm lấy mẹ và bật khóc, “mẹ…mẹ của con…” trãi qua bao nhiêu năm tháng câu chuyện của mẹ vẫn còn sáng mãi trong truyền thuyết.

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

Xót Thương Cảnh Nghèo Kiệt Quệ Của Gia Đình Cậu Bé Cụt Chân

12 tuổi, em nhỏ thó như một đứa trẻ mới lên 5. Hoàn cảnh của em Phạm Văn Thạnh (sinh năm 2003, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế) ai nhắc tới cũng cảm thấy xót xa. Tuổi còn nhỏ, nhưng em đã mang trong mình nhiều thương tật, em đã mất đi mãi mãi một phần cơ thể của mình, đó là cái chân bên trái. Khốn khổ là vậy, nhưng đợt nhập viện mới đây, gia đình em cũng chẳng biết phải trông ngóng vào đâu.

Vào ngày 21/7/2014, trên đoạn đường quốc lộ 1A trước Cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi Phú Lộc (huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế) một chiếc ô tô tải 7,2 tấn đã vô tình cán ngang qua đôi chân bé nhỏ của em, khiến em Thạnh chân trái bị đứt lìa, cánh tay phải vỡ xương, chân còn lại phải nhiều lần phẫu thuật để cứu chữa khỏi nguy cơ hoại tử.

Cậu bé đã mất đi mãi mãi một chân.

Khi xảy ra tai nạn, biết hoàn cảnh của gia đình em khó khăn, nhiều nhà hảo tâm cũng đã hỗ trợ em chữa bệnh. Nhưng vết thương của em quá lớn, gia đình gần như kiệt quệ vì mẹ em mắc bệnh tim quái ác, người anh trai Phạm Văn Phụng (sinh năm 1991) là lao động chính trong gia đình.

Nghe tin em xảy ra việc chẳng lành, anh trai của Thạnh đã nghỉ việc ở Đà Nẵng về chăm em. Tiền lương mỗi tháng ít ỏi anh trai Thạnh phải chia năm, sẻ bảy phần lo thuốc thang cho em, phần gửi về phụ mẹ nuôi các em nhỏ.

“Bố mất sớm, mẹ mình lại đau yếu liên miên, nhà đông anh chị em lắm (7 người con – PV). Cũng vì cái nghèo, mà mẹ mình phải dứt ruột gửi em Thạnh nhờ người ta nuôi hộ. Vậy nên, khi Thạnh bị tai nạn cả nhà chẳng biết trông mong vào đâu chữa bệnh. Trước đây đã nghèo lắm rồi, giờ còn chẳng có miếng ăn. Thương em, thương mẹ nên mình cũng chỉ biết lầm lũi đi làm thuê, làm mướn, nhận càng nhiều việc càng tốt”, Phạm Văn Phụng bày tỏ.
 
Thạnh là con thứ 5 trong gia đình có 7 người con.

Gần 1 năm chữa trị cho em trai nhưng vì nhiều lần thiếu tiền, nên vết thương của Thạnh không được chữa khỏi dứt điểm. Mỗi lần trái gió trở trời, Thạnh lại đau nhức. “Chật vật lắm mới lo được miếng ăn, nên tiền thuốc thang cho em cũng hạn chế, nhiều lần phải bớt lại thuốc vì không đủ tiền”, anh trai Thạnh chia sẻ.

Được biết, Thạnh đã được đưa vào Bệnh viện Trung ương Huế tiếp tục phẫu thuật và điều trị tay, chân. Em đã được một bác sỹ hỗ trợ, lo thủ tục tạm thời để phẫu thuật và hỗ trợ suất ăn miễn phí. Nhưng chi phí cho toàn bộ quá trình chữa trị của em vẫn chưa biết trông mong vào đâu. Mong những tấm lòng hảo tâm có thể giúp Thạnh chữa lành những vết thương trên cơ thể, để em có thể sống khỏe mạnh như bao bạn bè cùng trang lứa.



Mọi sự giúp đỡ xin liên hệ:
Phạm Văn Phụng
Địa chỉ: Số 3 KV 9, Thị Trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế
Số điện thoại: 0165.2852886
 
Nguồn: TuThien.VN

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

Đứa Con Hoang

Mấy tiếng “con hoang” như một vết chém sâu hoắm vào tâm hồn non nớt của tôi. Không biết từ bao giờ, trong tôi chỉ còn lại sự căm ghét người mẹ tật nguyền của mình. Trong mắt tôi, mẹ là một kẻ tội đồ vì đã sinh ra một đứa con mà không cho nó biết cha nó là ai…
 

Tôi cúi đầu, không dám nhìn vào ảnh mẹ

Tôi cầm túi đồ ăn ném mạnh vào giỏ rác, nói như hét: “Đã nói má đừng có lên nữa, sao không chịu nghe vậy? Tiền nè, má về đi”. Mẹ tôi run rẩy bước tới cạnh thùng rác: “Thôi, con không ăn thì má đem về… Tại má nhớ con quá thì lên thăm chớ má đâu có cần tiền. Mai mốt con về thì hết con nước rồi, má sợ không có cá ngon như vầy nữa…”.

Tôi dịu giọng: “Sao má không chịu nhớ? Lâu rồi con đâu có thích ăn cá linh? Cá gì mà xương không…”. Mẹ tôi mở giỏ lấy ra túm bông điên điển: “Vậy má để lại cái này cho con nghen? Nước rút rồi nên bông cũng ít. Hôm qua má phải đi hái cả buổi mới được nhiêu đây”. Tôi thấy chạnh lòng nên gật đầu: “Má cứ để đó cho con. Thôi, má về đi, con phải đi làm đây”.

Tôi đứng nhìn theo mẹ bước thấp, bước cao khuất dần nơi đầu hẻm. Tôi để mẹ đi một mình vì không muốn người trong hẻm biết tôi có một người mẹ tật nguyền…

“Cô Tư què”, “bà Tư què”… là những tiếng mà tôi nghe người ta gọi từ khi tôi nhận biết sự bất thường của đôi chân mẹ. Lớn lên một chút, tôi biết mẹ tôi bị tật cả hai chân từ lúc mới lọt lòng. Bà ngoại mất khi mẹ tôi mới 16 tuổi. Sống một mình giữa đồng nước mênh mông, một đêm mưa nọ, mẹ đã bị một gã đàn ông cùng xóm cưỡng hiếp. Kết quả là tôi có mặt trên cõi đời này với bao nhiêu điều tiếng xấu xa.

Thế nhưng với mẹ thì ngược lại. Bà xem đó là món quà vô giá mà tạo hóa đã ban cho mình. “Má nói thật đi, ai là cha con?”. Không phải chỉ một lần, tôi hỏi mẹ câu đó. Nhưng lần nào cũng vậy, mẹ chỉ lặng im. Có lần tôi làm dữ thì mẹ nói: “Con biết thì cũng đâu có lợi ích gì mà còn làm cho gia đình người ta xào xáo. Thật lòng, má phải mang ơn người ta chớ thân má như vầy, ai mà thèm…”.

Tôi lớn lên như một cái cây non thiếu ánh sáng. Sau lưng tôi, người ta xầm xì: “Đồ con hoang”. Rồi đến những đứa bạn học cùng lớp cũng trêu chọc: “Đồ không cha”. Mấy tiếng “con hoang” như một vết chém sâu hoắm vào tâm hồn non nớt của tôi. Không biết từ bao giờ, trong tôi chỉ còn lại sự căm ghét người mẹ tật nguyền của mình. Trong mắt tôi, mẹ là một kẻ tội đồ vì đã sinh ra một đứa con mà không cho nó biết cha nó là ai…

Lên lớp 10, tôi ra thị xã học. Suốt những năm học cấp 3, tôi chỉ về nhà dịp hè và Tết dù từ nhà ra thị xã chỉ mất 30 phút đi xe máy. Thằng Kiên con bác Ba Bảo ở cạnh nhà có nhiệm vụ “tiếp tế” cho tôi mỗi tuần. Có lần nó bảo: “Ê, sao mày không về thăm má mày? Tao thấy tội nghiệp má mày lắm. Hôm trước hình như bả bị bịnh đó”.

Tôi có hơi băn khoăn nhưng rồi lại quên ngay. “Mày về nói với má tao là nhớ mua thuốc uống, lúc này tao bận học lắm nên không về được”. Thằng Kiên bĩu môi: “Mày đúng là con bất hiếu”.

Học hết lớp 12, tôi quyết định lên Sài Gòn. “Lên trên đó dễ kiếm tiền lắm”- chị Thu con bác chủ nhà tôi ở trọ bảo. Chị làm đầu bếp trong một nhà hàng lớn ở Sài Gòn, lương mỗi tháng cả chục triệu. Chị hứa sẽ đỡ đầu nếu tôi muốn lên trên ấy.

Mẹ tôi đã khóc cả đêm khi biết ý định này. “Con lên trên đó làm sao má đi thăm?”- mẹ tôi sụt sịt. Tôi nạt: “Ai cần má thăm? Má cứ ở nhà, con làm có tiền sẽ gởi về nuôi má”.

Vậy là tôi đi. 4 năm qua, tôi về thăm nhà đúng 1 lần. Mẹ tôi nhờ thằng Kiên dò la tin tức. Biết chỗ tôi làm, nó gọi điện thoại trách: “Mày đúng là con bất hiếu. Nếu tao không gọi, chắc mày cũng im luôn. Má mày lo tới bịnh luôn đó”. Tôi bực vì cái tiếng “bất hiếu” của nó nên nạt: “Mày còn nói cái giọng đó nữa thì đừng có gọi điện cho tao nghe chưa”. Nói rồi tôi cúp máy.

Có lẽ nó tức lắm nên dẫn mẹ tôi lên tận Sài Gòn tìm tôi. Dĩ nhiên là nó bị tôi chửi vuốt mặt không kịp. Mẹ tôi cũng bị vạ lây: “Còn má nữa, ai biểu má lên đây?”. Thật sự thì đâu có ai biểu mà chỉ có tấm lòng, tình yêu của một người mẹ đã thúc giục mẹ tôi lặn lội đi tìm con. “Tại con không về nên má nhớ…”- mẹ tôi rưng rưng. Thấy vậy, tôi cũng không nỡ rầy la: “Thôi được, má muốn lên thì cứ lên; nhưng con nói trước là con không có về dưới nữa đâu”.

Từ đó, cứ vài tháng, mẹ tôi lại lặn lội từ Châu Đốc lên Sài Gòn thăm con. Thỉnh thoảng thằng Kiên rảnh thì lại đi cùng với mẹ. Có lần nó đùa: “Ê, má bà đã hứa gả bà cho tui rồi đó nghen. Bà ở trên này đừng có lộn xộn”. Tôi không nhớ nó đã đổi cách xưng hô từ khi nào nhưng vừa nghe vậy đã đổ quạu: “Đừng có mơ. Tui không bao giờ trở về cái xứ đó. Mà ông cũng đừng có ăn nói bậy bạ”. Nó cười hì hì: “Giỡn bà thôi chớ cái thứ con cái không ra gì như bà, có cho tui cũng không thèm lấy”.

Mọi chuyện sẽ không có gì nếu như tôi không tình cờ quen một người. Anh là trưởng phòng của một công ty lớn. Chân dung của tôi trong mắt anh là một đứa trẻ mồ côi, tự lập, tự bươn chãi vào đời… “Anh yêu em vì những điều đó. Em là một cô gái đầy nghị lực”- có lần anh bảo tôi như vậy.

Tôi gọi điện cho Kiên: “Ông đừng có dẫn bà già lên nữa nghe chưa. Tôi nói với người ta là tôi mồ côi…”. Vừa nghe vậy, Kiên đã sừng sộ: “Bà ăn nói gì bất nhơn thất đức vậy? Má bà còn sống sờ sờ đó mà”. “Tui nói rồi, ông mà còn dẫn má tui lên là đừng có trách sao tui cạn tình nghen”- tôi nói dứt khoát.

Kiên còn dẫn mẹ tôi lên một lần nữa. Sau đó, hắn mất biệt. Mẹ tôi lại lặn lội đi một mình. Tôi bực bội ra tối hậu thư: “Má đừng có lên đây nữa, con khó ăn khó nói với người ta. Nếu má không nghe lời, con sẽ đổi chỗ ở, không cho biết số điện thoại luôn”.

Lần đó về, mãi 4 tháng sau mẹ tôi mới dám lên. Đó chính là cái lần tôi đã vứt giỏ đồ ăn mà mẹ lụm cụm mang từ nhà lên cho tôi. Và vì giận mẹ không nghe lời nên tôi đã đổi chỗ ở và không thèm gọi điện thoại về nhà.

Cho đến một hôm, tôi bỗng thấy ruột gan mình bồn chồn. Tôi lục tìm số điện thoại của Kiên. Nhưng tôi tìm mãi mà chẳng thấy. Bẳng đi một thời gian khá lâu, khi sắp xếp lại đồ đạc, tôi tìm được quyển sổ trong đó có ghi số điện thoại của Kiên. Tôi mừng quýnh vội gọi ngay. Vừa nghe tiếng Kiên, tôi đã líu lo: “Xin lỗi nghen, tui bỏ mất số điện thoại của ông, giờ mới tìm được. Ông sao rồi? Khỏe không? Cưới vợ chưa hay là còn chờ tui?”.

Không nghe Kiên trả lời, tôi lại ghẹo: “Ê, bộ còn giận hả?”. Bên kia, giọng Kiên thật chậm: “Giận làm gì cái thứ không phải con người như bà”. Tôi chột dạ: “Làm gì mà nặng lời như vậy? Ông thấy má tui khỏe không?”.

Không có tiếng trả lời. Tôi sốt ruột: “Nói đi chớ, tốn tiền điện thoại của người ta…”. Kiên thủng thẳng: “Giỏi lắm thì bà cũng chỉ tốn tiền điện thoại một lần này chớ mai mốt có muốn tốn cũng không được…”. Tôi phát bực nên gắt: “Nói gì thì nói lẹ lẹ lên, không thôi tui cúp máy à”.

Lần này tôi không phải chờ lâu vì Kiên nói ngay: “Má bà mất rồi”. Tôi nghĩ là Kiên nói đùa: “Ê, hết chuyện giỡn rồi sao? Má tui đang mạnh sần, ông trù ẻo hả? Đồ xấu xa”. “Còn bà là đồ bất hiếu. Muốn biết thì về. Tui cúp máy đây”.

Giọng Kiên cụt ngủn. Hắn cúp máy thật. Tôi gọi lại, chuông vẫn đổ nhưng hắn nhất quyết không nghe máy. Bán tín, bán nghi, hôm sau tôi chạy về…

Kiên không hề nói đùa. Mẹ tôi đã mất cách nay hơn 3 tháng. Trước đó, bà đã bệnh không ăn uống cả tuần… Kiên kể với tôi, hôm đám tang mẹ tôi, trời mưa tầm tả. Những người đưa đám đều khóc khi thấy người đứng ra lo ma chay cho mẹ tôi lại là Kiên. “Tui có nhờ nhắn tin trên truyền hình, cả đăng báo nữa…”- giọng Kiên buồn buồn.

Tôi cúi đầu, không dám nhìn vào ảnh mẹ. Kiên đã nói đúng. Tôi không chỉ là một đứa con bất hiếu mà thậm chí, tôi cũng không đáng làm một con người. Tôi có mẹ mà như một đứa con hoang…


Nguồn: Sưu Tầm

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2015

Nói Với Con Tôi Là Tôi Rất Yêu Nó!

Chẳng ai trong cái xóm nghèo này là không biết bố con ông lão nọ. Người cha vừa đi bán vé số, vừa bán báo dạo hàng ngày để kiếm bữa cơm bữa cháo nuôi đứa con trai tật nguyền. Người con dù đã 25 tuổi vẫn ngẩn ngơ như đứa trẻ lên 3. Có người chép miệng bảo: Chẳng hiểu kiếp trước ông ấy ác cỡ nào mà giờ bị quả báo, đày ải khổ như thế.

Tất cả đều không lọt vào tai ông. Hàng ngày, ông vẫn cần mẫn dậy từ sớm luộc hai củ khoai lang, đưa thằng con một củ và ông nhét củ còn lại vào trong chiếc túi bố thủng lỗ chỗ, cáu đầy ghét và bắt đầu cuộc hành trình lang thang khắp nẻo đường của Thủ đô. Đứa con trai được một bà lão không con chăm sóc hộ. Ông thường nhặt nhanh mọi thứ còn dùng được trên đường mang về, khi thì cái quạt cũ, lúc cái bàn gãy chân. Ông lại sửa chữa lại.

Ngôi nhà tồi tàn của hai bố con trông thế nhưng không đến nỗi. Mọi người trong xóm cảm động trước hoàn cảnh hai cha con. Thỉnh thoảng họ cho ít tiền, vậy mà ông không bao giờ nhận. Có kẻ bảo: “Ông già hâm!” hay “Nghèo rồi còn sĩ!”, “Gàn dở đến thế là cùng!”. Nhưng ông vẫn nhất mực giữ vững thái độ kiên quyết của mình.

Nói với con tôi, là tôi rất yêu nó!

Đúng là ông sĩ diện, lòng tự trọng không cho phép ông nhận vì ông luôn cho rằng mình còn khỏe, còn làm được thì không lý gì đi nhận tiền của người khác. Ông chỉ vui vẻ nhận thức ăn của một vài người bạn nghèo bên cạnh nhà. Họ là những người tuy nghèo nhưng đầy tình nghĩa.

Nhờ có những người hàng xóm đó, hai cha con ông mới ổn định được chỗ ở, không phải ngủ dưới gầm cầu như trước nữa. Ông chăm chỉ đi bán báo và vé số mỗi ngày bất kể trời nắng hay mưa. Ông chắt chiu từng đồng với mong ước một ngày nào đó chữa khỏi bệnh cho con.

Như lời ông kể, hồi còn trẻ vì quá say sưa kiếm tiền ở xa, ông đã không có thời gian dành cho con trai. Đến năm thằng bé 7 tuổi, nó bị một cơn sốt cao làm ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Vợ ông vì hận chồng đã bỏ nhà đi. Người ta gọi ông về. Nhìn đứa con trắng trẻo hồng hào mà chẳng biết gì, ông xót xa vô cùng. Ông lao đầu vào rượu chè, gái gú mặc cho con trai sống dở chết dở không người chăm nom.Chỉ đến khi ông bị một người phụ nữ lừa hết cả tiền bạc, ông mới sực tỉnh. Ông gần như kiệt sức vì rượu và vì suy sụp tinh thần. 

Nếu không bởi thương con, hẳn ông đã tự tử. Ông thầm lên kế hoạch như thế. Tiếng gọi ú ớ non nớt, yếu đuối cộng thêm nét mặt lo lắng, sợ hãi của con làm trái tim người cha đau đớn, bị giằng xé khôn nguôi. Nó chính là động lực thúc đẩy ông quyết tâm cai rượu và làm lại từ đầu.

Những ngày phải chui lủi sống ở xó chợ, gầm cầu quả là khổ cực. Ông dẫn con lê lết dưới cơn mưa phùn lạnh giá để xin vài đồng bạc lẻ, một chút cơm nguội cho con, còn cha thì nhịn.

Ngày Tết, nhà nhà quây quần bên mâm cơm ấm cúng, ông chỉ biết ôm con vào lòng cùng vượt qua cơn đói cồn cào.


Thằng bé rất thương cha nó. Một lần, ông bị toán thanh niên mua vé số không trả tiền đánh cho tơi tả, thằng bé bình thường ngơ ngẩn thế mà hôm đó cũng cúi xuống che cho cha, ú ớ phản đối. Đêm đó, hai cha con ôm nhau khóc ròng.

Thấy con thỉnh thoảng lôi báo cũ ra xem, ông vui không gì tả xiết. Ông nhảy cẫng lên như một đứa trẻ. Từ đó, mỗi buổi tối ông kiên nhẫn “học” cùng con từng chữ. Nó là đứa trẻ không bình thường nên nhớ nhớ quên quên, chữ đọc được chữ lại không nên chật vật lắm ông mới dạy con nhớ được vài từ mới suốt từng ấy năm trời.

Có đêm, ông thức trắng vẽ hay khắc cho con thật nhiều hình con vật để nó nhận biết. Trời cũng không phụ lòng người, nó dần nhận ra các sự vật xung quanh. Nó có vẻ lanh lợi hơn. Ông cũng dần già đi. Tóc ông giờ đã bạc trắng, đôi tay nhăn nheo.

Ông bắt đầu làm việc cật lực hơn. Ông nhận thêm các việc đan giỏ cho một gia đình bán hàng mây tre. Hàng ngày, ông cặm cụi đến tận nửa đêm. Nhờ sự khéo tay, tính cẩn thận nên hàng ông làm ra được chủ thuê và khách hàng rất thích.

Hôm nay, ông nhận được tiền công. Ông mua một chiếc bánh bao rất to. Suốt chặng đường về, ông háo hức khi nghĩ tới lúc trông thấy con trai ăn cái bánh thật ngon lành.


Ông vừa lóe ra ý tưởng táo bạo, rằng một ngày nào đó không xa ông sẽ có tiền mở một cửa hàng hay nhà máy xuất khẩu hàng mây tre đan, do chính tay ông và những người bạn khéo tay của ông làm nên. Vừa đi ông vừa huýt sáo.

Đột nhiên từ đâu một chiếc xe máy lao nhanh, đâm sầm vào ông. Chiếc túi xách cũ nát bị hất tung lên trời. Ông bị đẩy, bắn xa cả trăm mét và rồi nằm sóng soài trên nền đất. Mắt ông đờ đờ, môi ông chúm chím như thể vẫn đang huýt sáo. Bàn tay nắm chặt chiếc bánh bao mà ông đang định tặng con, điều bất ngờ nho nhỏ. Chiếc túi xách rơi xuống, miếng bánh mì thừa lúc chiều ông nhặt được văng vào góc vỉa hè.


Mọi người xúm đông, xúm đỏ xung quanh ông già. Khó khăn lắm ông mới thều thào được một câu: Nói với con tôi là tôi rất yêu nó. Ông chỉ kịp dúi chiếc bánh bao vào tay người ở gần ông nhất rồi lịm đi. Người ta tìm thấy trong chiếc rương gỗ của ông có một chiếc hộp nhỏ. Nếu không nói ra, khó ai có thể ngờ được bên trong là hơn 20 triệu đồng. Ông đã tiết kiệm, chắt chiu nhiều năm để dành dụm cho con. Đứa con trai vẫn nghịch đồ chơi siêu nhân cha làm cho nó.

Thỉnh thoảng nó bật cười khanh khách. Nó chạy xung quanh mọi người, rất ngạc nhiên khi thấy ai đó khóc. Nó cũng chẳng hề quan tâm, người đàn ông nằm trong cỗ quan tài kia là ai. Nó ngó vào nhìn rồi chạy đi, lúc sau nó lại chạy vào lay lay người ấy rủ chơi cùng.

Thật kỳ lạ, bất chợt nó mếu máo gọi: Cha ơi!

Nó khóc thật to, không ai dỗ nổi. Người ta mặc áo tang vào cho nó, đưa nó chiếc gậy và chỉ nó cách đi theo tục lệ. Nó làm như cái máy. Dường như trên bức di ảnh, người cha đang mỉm cười. Ông vui vì giờ đây con ông đã được đưa vào nhà tình thương dành cho trẻ em mồ côi chứ không phải một thân một mình khi ông đi xa. Linh hồn người cha tội nghiệp hòa cùng khói trầm đang ngào ngạt tỏa ra, bay lên không trung.


Nguồn: Sưu Tầm

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

Lời Nói Dối Của Cha

Để đến hôm nay, khi đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Cuộc sống hối hả, vô thường vô tận. Nó cũng chẳng bao giờ đóai hoài đến cái đầu, hay miếng xương con cá. Vì những thứ đó đã được vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.

Cha mẹ nó lớn tuổi mới cưới nhau. Hồi đó, gia đình nghèo khó. Mẹ mất sớm, cha tần tảo nuôi 3 anh em nó nên người. Nhà gần sông, nhưng cha đau yếu, ít khi có được con cá mà ăn, mà có được bữa cá đã là thịnh soạn lắm với anh em nó rồi. Nó còn nhớ, mỗi lúc ăn cá, cha thường bảo: “Để tao ăn đầu và xương”

Nó nhanh nhẩu: “Tại sao hả cha?”

Cha nó nói vẻ mặt nghiêm nghị, kiểu răn dạy: “Vì cha già rồi, hay đau đầu, nên ăn đầu thì nó sẽ bớt đau – cái này gọi là ăn óc bổ óc, hiểu không? Xương yếu, ăn xương thì sẽ cứng cáp hơn. Có vậy mà cũng không hiểu hả?”


Lời nói dối của cha

Tâm hồn trẻ con, nó và hai đứa em đinh ninh là cha nói thật. Mỗi lúc đến bữa ăn, nó còn nhanh nhẩu sẻ ra từng phần. Bỏ đầu và xương qua cho cha nó. Ba anh em tranh nhau phần thịt.

Có những lúc nó cũng phân vân, những khi như thế, cha nó lại bảo: “Hồi nhỏ, ông bà nội cho tao ăn thịt suốt, giờ nhìn thịt là cha thấy ớn quá, sau này lớn các con cũng như cha thôi.”

Thấm thoắt thoi đưa, anh em nó lớn lên, và cha nó già đi. Sau này, khi nó đủ hiểu biết mới nhận ra những lời cha nó nói trước đây là nói dối, thì cũng là lúc đời sống của gia đình nó khấm khá hơn. Anh em nó có thể thay cha đi đò, đi sông, mò cua, thả cá.

Vì thế mà cha nó cũng thỉnh thoảng ăn thịt, hay ăn thường xuyên nó cũng chẳng nhớ. Vì tuổi trẻ bồng bột, không dám – không ngẫm nghĩ nhiều về yêu thương, hay vì cha nó cố tìm cách cho “lời nói dối” được anh em nó chấp nhận hơn, nó cũng chẳng còn nhớ.

Để đến hôm nay, khi đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Cuộc sống hối hả, vô thường vô tận. Nó cũng chẳng bao giờ đóai hoài đến cái đầu, hay miếng xương con cá. Vì những thứ đó đã được vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.

Hôm nay là ngày giỗ lần thứ 10 của cha nó. Nhìn di ảnh ba gầy còm, nhưng nở một nụ cười tươi sáng. Nhìn con cá chiên to đùng, lấp lánh mỡ mà vợ đặt lên bàn thờ, nó chợt bất giác rơi lệ. Một cơn đau từ đâu hiện về nhói lòng vô tận.

Nó phải quay mặt đi để lau hàng lệ, để giấu vợ con. Nhưng nó không thể xóa đi được hình dáng cha già còm cõi, xiêu vẹo bước đi bên sông, “cha đi thả cá mùa nước nổi”. Rồi sau đó là những trận thương hàn triền miên hành hạ ông. Nó không thể xóa đi được cái ý nghĩ “nếu cha ăn nhiều thịt hơn, thì đã không già yếu như thế”. Vừa khấn vái, nó lại bất giác kêu lên những tiếng “cha” từ trong cổ họng.

Đến lúc ra bàn ăn. Nhìn vợ đang xẻ thịt con cá, để bỏ đi phần đầu và xương. Nó giữ tay vợ lại: “Em, để anh ăn đầu, đừng bỏ đi”.

Vợ hiểu. Vợ nó bỏ đầu cá qua cho chồng. Chỉ có cô con gái nhỏ là thắc mắc “Sao hôm nay ba lại ăn đầu, nó lắm xương, nó sẽ làm đau ba đấy”.

Nó xoa đầu con gái, nuốt tiếng nấc đang chầu chực nơi cổ họng vào trong, bảo “Dạo này ba hay đau đầu, nên ăn đầu sẽ hết đau con gái à, cái này gọi là ăn đầu bổ đầu đấy con yêu”.

Nó vừa ăn vừa cố cho những giọt nước mắt không tràn xuống bát cơm.

Nguồn: Sưu Tầm

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2015

Chiếc Xe Đạp Của Mẹ

Năm tôi 12 tuổi, mẹ tôi “ đem” về nhà một chiếc xe đạp. Tôi nói là “ đem” vì lúc nhỏ tôi nghĩ, khi mua một thứ gì thì hiển nhiên thứ đó phải mới coóng, và ở trong tình trạng tốt nhất.

Còn chiếc xe đạp ấy thì cũ nát đến mức lớp sơn bong tróc gần hết, trơ ra một màu kim loại gỉ sét xấu xí. Nhìn chiếc xe đạp, tôi thầm nghĩ: “ Mẹ đem về nhà làm gì cái khối sắt hoen gỉ ấy!”.

Thế nhưng, ý nghĩ đó biến thành cảm giác có lỗi khi mẹ cười hồ hởi: “Mẹ mua lại nó ở chỗ bán phế liệu, chỉ cần bỏ ra ít tiền sửa lại là có thể chở rau đi bán được rồi.”. Tôi nhận ra mẹ cần một chiếc xe đạp đến thế nào.

Bố tôi mất khi tôi 8 tuổi, em gái tôi khi ấy mới 5 tuổi. Một mình mẹ tảo tần nuôi hai anh em tôi ăn học. Mẹ tôi là một người rất kiệm lời, làm nhiều hơn là nói. Mẹ thức dậy lúc 4 giờ sáng, gánh rau đến chợ để bán. 


Chiếc xe đạp của mẹ

Đó là chợ ở thị trấn, cách nhà tôi tận 5 cây số. Gần nơi tôi ở cũng có một cái chơ nhỏ. Nhưng mẹ nói bán ở đấy chẳng được bao nhiêu, rau ở chợ thị trấn có giá hơn nhiều. Ngày nào cũng vậy, mẹ đi từ lúc sáng sớm, trở về lúc giữa trưa, và lần nào mồ hôi cũng rịn ướt lưng áo.

Từ khi có chiếc xe đạp, mẹ không phải thức dậy quá sớm, không phải đi bộ một quãng đường xa với đôi quang gánh trĩu nặng trên vai. Mẹ chỉ sửa lại những gì cần thiết, chiếc xe đạp vẫn giữ nguyên màu nâu gỉ sét. Nhưng giờ với tôi, nó không còn là chiếc xe đạp xấu xí nữa.

Năm tôi chuẩn bị lên lớp 10, một hôm mẹ nói sẽ mua cho tôi một chiếc xe đạp. “Một chiếc xe đạp mới hả mẹ?”. Tôi cố tình nhấn mạnh từ “ mới”. Và khi mẹ cười xác nhận: “ Ừ, mẹ sẽ mua cho con một chiếc xe đạp mới.”. Tôi muốn hét toáng lên vì vui sướng. Thật là tuyệt! Một chiếc xe đạp mới chứ không phải là chiếc xe đạp cũ kĩ, hoen gỉ được sửa lại, như chiếc xe đạp của mẹ. Những ngày sau đó, tôi không ngừng tưởng tượng ra cảnh mình vi vu cưỡi trên chiếc xe đạp màu bạc sáng bóng.

Nhưng năm đó, tôi bị sốt xuất huyết. Số tiền mà mẹ dành dụm để mua xe đạp cho tôi đã chi hết vào tiền viện phí và thuốc men. Đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể nào quên được đôi mắt mẹ đêm hôm đó. Đôi mắt nhòe nước, đau đớn, dằn vặt. Mẹ nói không thể mua xe đạp mới cho tôi, và rằng mẹ chỉ có thể sửa lại chiếc xe đạp của mẹ cho tôi đi học. Đó là lần đầu tiên tôi thấy mẹ khóc kể từ ngày bố mất. Có lẽ, mẹ cảm thấy mình là một người mẹ tồi tệ và thất bại vì không làm được như đã hứa, không thể mua cho con mình thứ mà nó ao ước.

Không đâu mẹ, con không cần xe đạp mới nữa đâu mẹ!”. Tôi nói bằng giọng kiên quyết, để mẹ biết rằng tôi chưa bao giờ cảm thấy thiếu thốn thứ gì khi tôi đã có mẹ. Cuộc sống của anh em tôi đã được mẹ lắp đầy bằng tình yêu thương rồi.

Tôi đi học bằng chiếc xe đạp của mẹ. Điều đó cũng có nghĩa là mẹ phải thức dậy sớm hơn, gánh rau đến chợ bằng đôi vai gầy. Tôi tin rằng, dù bầu trời có sụp xuống, mẹ cũng sẵn sàng dùng đôi vai ấy để nâng đỡ, che chở cho những đứa con của mẹ.

Học kỳ II của năm lớp 10, tôi được mẹ mua cho chiếc xe đạp mới. Chiếc xe đạp màu bạc đúng như tôi mong ước. Dĩ nhiên là nó mới cóong và đẹp hơn chiếc xe đạp của mẹ rất nhiều. Không chỉ đơn giản là phương tiện đi lại, chiếc xe đạp là động lực để tôi cố gắng học thật tốt. Những ngày đến trường trên chiếc xe đạp mới, guồng chân theo những vòng quay. Tôi chở đi khát vọng về một cuộc sống sung túc cho mẹ và em gái, ước mơ về cổng trường đại học, chở theo cả tình yêu bao la của mẹ.

Tôi thi đậu vào trường đại học đúng như mơ ước. Rời quê, xa mẹ. Tôi mang theo chiếc xe đạp vào Sài Gòn. Rong ruổi qua những đường phố tấp nập, hành trình thực hiện khát vọng của tôi chỉ mới bắt đầu. Con đường phía trước sẽ có những gập ghềnh, khó khăn.

Nhớ về mẹ. Nhớ đến hình ảnh đã in sâu trong tâm trí tôi. Mẹ guồng chân trên chiếc xe đạp hoen gỉ chở những giỏ rau trĩu nặng. Tôi có thêm sức mạnh để tiến bước. Trong cuộc hành trình này, tôi không bao giờ đơn độc. Bạn biết mà, bạn sẽ không để khó khăn nào cản trở bước chân của mình, khi bạn có tình yêu vô bờ của mẹ. Tình yêu ấy lớn hơn bất cứ điều gì trên thế giới này.


Nguồn: Sưu Tầm

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Người Mẹ Điên

Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi \”cút cho xa!\”. Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng.

Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy cô gái điên có sắc vóc thì động lòng, quyết định mang cô về nhà cho cha tôi làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi “đứa nối dòng” sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.

Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: “Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!”. Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ tôi đến gần tôi.

Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: “Đưa, đưa tôi…” bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ tôi cũng chỉ là người mẹ điên.


Người mẹ điên

Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: “Mày đừng có hòng bế cháu tao, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!”

Bà nội tôi nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ tôi có “bệnh thần kinh”, nếu lây sang tôi thì phiền lắm.

Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi.

Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: “Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?”

Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi “hạ lệnh tiễn khách” liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà nội, lắp bắp kêu ai oán: “Đừng… đừng…”. Bà nội nghiêm sắc mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: “Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe chưa hả?”

Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, “phầm!” một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát của bà tôi, mẹ tôi chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.

Bà nội ngồi thẫn thờ, hóa ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ tôi sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những dòng nước mắt nóng, rồi quay lại một lần nữa nghiêm sắc mặt quát: “Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!”.

Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm nhỏ xíu cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: “Cô đi đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!”. Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí.

Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên, mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, nụ cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.

Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi hỏi. Bà và cha tôi đều nói mẹ tôi đã chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: “Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi.”

Tôi lại tìm bà nội tôi để vòi vĩnh, đòi bà phải trả lại mẹ tôi. Tôi còn chửi bà nội là đồ “bà lang sói”, thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi.

Ngày đó, tôi làm gì biết “điên” nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không?

Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang.

Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: “Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!” Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi.

Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào.

Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chằm chặp, nhếch mép bảo: “Thụ… bóng… bóng…”. Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bong bóng bay trong tay, dúi vào tôi với vẻ lấy lòng.

Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: “Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!”

Tôi tức tối đáp lại nó: “Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!”

Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố tôi thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện.
Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi “Mẹ!” khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng.

Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi “quan sát học hỏi”, bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn.

Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ “cỏ lợn”. Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trổ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: “Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được…”

Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: “Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà…”

Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: “Đừng… đừng…”. Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: “Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được…”

Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oằn oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: “Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!” Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: 

“Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!” Tôi vùng vằng bĩu môi: 

“Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!”

“A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!” Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: “Đánh tôi, đánh tôi!”

Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: “Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!”.

Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.

Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi, mẹ tôi đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: “Thụ… ô…”. Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc.

Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng “vút” kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp “bay” ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp.

Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.

Mẹ vì tôi gây ra đại họa. Mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: “Mẹ!” đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói.

Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về.

Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao, tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói: “Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra.”

Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ.

Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng kêu thảm thiết của mẹ tôi. Sau đó phải nhờ ông trưởng đồn cảnh sát đến ngăn bàn tay bạo lực của cha tôi.

Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn vết roi đầy trên mình mẹ tôi, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. “Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành hoạ đấy thôi!”. Cha lại nhìn tôi nói: “Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!”. Tôi gật đầu, tôi hiểu.

Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp.

Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.
27/4/2003, lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: “Ngọt quá, ở đâu ra?” Mẹ nói: “Tôi… tôi hái…”. Tôi không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: “Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!”. Mẹ cười hì hì.

Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: “Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!”

Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: “Mẹ mày có nói gì không?” Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:”Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!”

Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: “Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!” Tôi nói: “Thím, thím đừng doạ cháu…”. Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi…

Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã đông cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: “Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ… Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào…” Tôi cúi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.

Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, “bay” thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: “Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!”


Nguồn: Sưu Tầm

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Chén Cơm Thừa Còn Lại

Tôi về đến nhà đã hơn 7h tối, Mẹ và em đang ăn cơm. Thấy tôi, Mẹ liền hỏi :

– Sao con về tối thế ?

– Dạ , hôm nay học 5 tiết.

Rồi không biết tôi đã ăn gì chưa Mẹ liền lấy chén đũa bảo tôi ngồi vào mâm. Bữa ăn thật đạm bạc, chỉ vài con cá nhỏ và một đĩa rau luộc. Như thế cũng là quý lắm rồi. Gia đình đanh lúc khó khăn bữa ăn làm sao sung túc được.

Lúc trưa vì sợ trễ học nên tôi không ăn cơm , chỉ lót bụng bằng một ổ bánh mỳ.Chính vì thế mà giờ này tôi ăn một cách ngon lành, cảm thấy ngon miệng hơn bao giờ hết.

Tôi vùi đầu vào mâm cơm mà không hay Mẹ tôi đã đứng lên tự lúc nào, rồi lại mang lên một đĩa trứng chiên.
Chén cơm thừa còn lại
– Con và em cứ ăn cho no đi.

– Mẹ ăn thêm cơm _ Tôi nói!

– Khi chiều Mẹ có ăn mấy củ khoai luộc ở nhà cô Hai nên vẫn còn no.

Tôi nhìn kỹ Mẹ, những nếp nhăn lại hằng sâu hơn và tóc Mẹ cũng bạc nhiều hơn. Mẹ ngồi nhìn hai anh em tôi ăn, đôi mắt người ánh lên niềm sung sướng.


Thì ra một hạnh phúc nữa của Mẹ là được nhìn thấy những đứa con ăn uống ngon miệng. Hạnh phúc của người Mẹ sao mà đơn giản và nhỏ bé.

Cơm nước xong tôi dạo bước ra trước hiên nhà thì gặp thằng bạn.

– Về lúc nào đó?

– Mới về

– Có ca nhạc ở nhà văn hoá. Đi xem với mình nhé!

Tôi vào nhà thay áo quần rồi xuống bếp xin Mẹ đi xem ca nhạc.

Tôi sững sốt khi nhìn thấy Mẹ đang ăn chén cơm thừa còn lại hồi nãy cùng với một chút rau. Tôi đứng như trời trồng, cổ họng ngẹn lại không nói nên lời..!


Nguồn: Sưu Tầm

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Túi Gạo Của Mẹ

Cái nghèo cái đói thường trực trong ngôi nhà nhỏ này, nhưng dường như, nỗi cơ cực bần hàn ấy không buông tha họ. Cậu con trai bắt đầu cắp sách đến trường cũng là lúc nỗi mất mát lớn bỗng nhiên đổ ập xuống đầu họ. Cha qua đời vì cơn bạo bệnh. Hai mẹ con tự tay mình mai táng cho người chồng, người cha vắn số.

Người mẹ góa bụa ở vậy, chị quyết không đi bước nữa. Chị biết, bây giờ chị là chỗ dựa duy nhất cho con trai mình. Chị cặm cụi, chăm chỉ gieo trồng trên thửa ruộng chật hẹp, tài sản quý giá nhất của hai mẹ con chị. Ngày qua ngày, năm nối năm, những tấm giấy khen của cậu con trai hiếu học dán kín cả bức tường vôi nham nhở. Nhìn con trai ngày một lớn lên, ngoan ngoãn, học hành giỏi giang, nước mắt bỗng lăn trên gò má chị.

Học hết cấp hai, cậu thi đậu vào trường cấp ba trọng điểm của thành phố. Gánh nặng lại oằn lên vai người mẹ. Thế nhưng không may thay, khi giấy báo trúng tuyển về đến tay cậu cũng là lúc mẹ cậu ngã bệnh. Căn bệnh quái ác làm chị liệt nửa chi dưới. Vốn là lao động chính của gia đình, giờ chị chẳng thể đi lại bình thường như xưa nữa nói chi đến chuyện làm nông. Cậu bé vốn hiểu chuyện, thương mẹ vất vả, cậu xin nghỉ học:

– Mẹ này, con nghỉ học thôi, ở nhà làm ruộng thay mẹ. Đi học, tiền đâu mà đóng học phí, tiền sinh hoạt phí, lại còn một tháng nộp 15 cân gạo nữa, nhà mình biết lấy đâu ra.

– Có thế nào con cũng không được bỏ học. Con là niềm tự hào của mẹ. Chỉ cần con chăm chỉ học hành, còn những việc khác, con không phải bận tâm.

Hai mẹ con tranh luận rất lâu, cậu kiên quyết không đi học nữa vì không muốn mẹ mình khổ. Cậu trở nên ngang bướng và lì lợm. Phải đến khi nóng nảy quá không kiềm chế được, mẹ cậu giơ tay tát cậu một cái vào má, cậu mới sững người lại. Đây là cái tát đầu tiên trong đời cậu con trai mười sáu tuổi. Mẹ cậu ngồi thụp xuống đất và khóc nức nở…

Nghe mẹ, cậu khăn gói vào trường nhập học. Lòng cậu nặng trĩu. Người mẹ đứng lặng hồi lâu, nhìn bóng con trai khuất dần…

Ít lâu sau, có một người mẹ lặc lè vác bao tải dứa, chân thấp chân cao đến phòng giáo vụ. Chị nộp gạo cho con trai. Chị là người đến muộn nhất. Đặt bao gạo xuống đất, chị đứng thở hổn hển một hồi lâu rồi nem nép đi vào.

Thầy Hùng phòng giáo vụ nhìn chị, nói:

-Chị đặt lên cân đi. Mở túi gạo ra cho tôi kiểm tra.

Chị cẩn thận tháo túi.

Liếc qua túi gạo, hàng lông mày của thầy khẽ cau lại, giọng lạnh băng:

– Thật chẳng biết nên nói thế nào. Tôi không hiểu sao các vị phụ huynh cứ thích mua thứ gạo rẻ tiền đến thế cho con mình ăn. Đấy, chị xem. Gạo của chị lẫn lộn đủ thứ, vừa có gạo trắng vừa có gạo lức lẫn gạo mốc xanh đỏ, cả cám gạo nữa, đây còn có cả ngô nữa… Thử hỏi, gạo thế này, chúng tôi làm sao mà nấu cho các em ăn được. Thầy vừa nói vừa lắc đầu.

– Nhận vào.

Thầy nói, không ngẩng đầu lên, đánh dấu vào bảng tên của học sinh.

Mặt người mẹ đỏ ửng lên. Chị khẽ khàng đến bên thầy nói:

-Tôi có 50.000 đồng, thầy có thể bổ sung vào thêm cho cháu để phụ tiền sinh hoạt phí được không thưa thầy?

-Thôi, chị cầm lấy để đi đường uống nước.

Thầy nói và vẫn không ngẩng đầu lên nhìn người phụ nữ tội nghiệp đang loay hoay, khổ sở, mặt đỏ ửng lên, chân tay thừa thải vì chẳng biết làm thế nào. Chị chào thầy rồi lại bước thấp bước cao ra về.

~*~

Đầu tháng sau, chị lại đến nộp gạo cho con trai. Thầy lại mở túi gạo ra kiểm tra rồi lại cau mày, lắc đầu. Thầy có vẻ lạnh lùng, ác cảm:

– Chị lại nộp loại gạo như thế này sao? Tôi đã nói phụ huynh nộp gạo gì, chúng tôi cũng nhận, nhưng làm ơn phân loại ra, đừng trộn chung như thế này. Chúng tôi làm sao mà nấu cơm cho ngon để các em ăn được? Chị nghĩ thử xem, với loại gạo hổ lốn thế này, liệu chúng tôi có thể nấu cơm chín được không? Phụ huynh như các chị không thấy thương con mình sao?

– Thầy thông cảm. Thầy nhận cho, ruộng nhà tôi trồng được chỉ có thế ! Người phụ nữ bối rối.

– Thật buồn cười cái nhà chị này ! Một mảnh ruộng nhà chị có thể trồng đến hàng trăm thứ lúa thế sao? Nhận vào ! Giọng thầy gằn từng tiếng và vẫn không ngẩng đầu lên nhìn chị.

Người mẹ im bặt, mặt chị trở nên trắng bệch, nhợt nhạt. Chị lí nhí cảm ơn thầy rồi lại lặng lẽ bước thấp, bước cao ra về. Dáng chị liêu xiêu, đổ vẹo trong cái nắng trưa hầm hập như đổ lửa.

~*~ 

Lại sang đầu tháng thứ ba của kỳ nộp gạo. Chị lại đến. Vẫn dáng đi xiêu vẹo, mồ hôi mướt mải trên trán, ướt đẫm lưng áo của người mẹ trẻ. Bao gạo nặng dường như quá sức với chị.

Thầy lại đích thân mở túi gạo ra kiểm tra. Lần này, nét giận dữ in hằn trên mặt thầy. Thầy rành rọt từng tiếng một như nhắc để người phụ nữ ấy nhớ:

– Tôi đã nói với chị thế nào. Lần này tôi quyết không nhân nhượng chị nữa. Chị làm mẹ mà sao ngoan cố không thay đổi thế này. Chị mang về đi. Tôi không nhận !
 


Túi gạo của mẹ
 
Người mẹ thả phịch bao gạo xuống đất. Dường như bao nỗi ấm ức, đau khổ và bất lực bị dồn nén bao ngày đột nhiên bừng phát. Chị khóc. Hai hàng nước mắt nóng hổi, chan chứa trên gương mặt sớm hằn lên nét cam chịu và cùng quẫn. Có lẽ, chị khóc vì tủi thân và xấu hổ. Khóc vì lực bất tòng tâm.

Thầy Hùng kinh ngạc, không hiểu đã nói gì quá lời khiến cho người phụ nữ trẻ khóc tấm tức đến thế.
Chị kéo ống quần lên để lộ ra đôi chân dị dạng. Một bên chân quắt queo lại.


– Thưa với thầy, gạo này là do tôi… Tôi đi ăn xin, gom góp lại bao ngày mới có được. Chẳng giấu gì thầy, chân cẳng tôi thế này, tôi làm ruộng thế nào được nữa. Cháu nó sớm hiểu chuyện, đòi bỏ học ở nhà giúp mẹ làm ruộng. Thế nhưng tôi kiên quyết không cho, kiên quyết không để con tôi thất học. Có học mới mong thoát khỏi cảnh cơ cực này. Nhà chỉ có hai mẹ con, cha cháu mất sớm… Thầy thương tình, thầy nhận giúp cho. Không nộp gạo, con tôi thất học mất !

Người mẹ trẻ này đều đặn ngày nào cũng thế. Trời còn tờ mờ, khi xóm làng còn chưa thức giấc, chị lặng lẽ chống gậy, lê mình rời khỏi thôn. Chị đi khắp hang cùng,ngõ hẻm xóm khác xin gạo. Đi mãi đến tối mịt mới âm thầm trở về. Chị không muốn cho mọi người trong thôn biết.

Lần này người bị xúc động mạnh lại là thầy Hùng. Thầy đứng lặng hồi lâu rôi nhẹ nhàng đỡ chị đứng lên. Giọng thầy nhỏ nhẹ :

– Chị đứng lên đi, người mẹ trẻ ! Chị làm tôi thực sự bất ngờ. Tôi đã có lời không phải với chị. Thôi thế này, tôi nhận. Tôi sẽ thông báo với trường về hoàn cảnh của em học sinh này, để trường có chế độ học bổng hỗ trợ cho học sinh vượt khó.

Người mẹ trẻ đột nhiên trở nên cuống quýt và hoảng hốt. Chị gần như chắp tay lạy thầy. Giọng chị van lơn:

– Xin thầy. Tôi có thể lo cho cháu, dù không đủ đầy như các bạn nhưng tôi lo được. Khổ mấy, vất vả mấy tôi cũng chịu được. Chỉ xin thầy đừng cho cháu hay chuyện này. Đây là bí mật của tôi, mong thầy giữ kín giùm cho.

Chị kính cẩn cúi đầu chào thầy như người mà chị mang một hàm ơn lớn, đưa tay quệt mắt rồi lại nặng nhọc, liêu xiêu ra về.

Lòng thầy xót xa.

Thầy Hùng đem câu chuyện cảm động này báo với hiệu trưởng. Ban giám hiệu trường giữ bí mật này tuyệt đối. Nhà trường miễn phí toàn bộ học phí và sinh hoạt phí cho cậu học sinh có hoàn cảnh đặc biệt này. Ngoài ra,học lực của cậu rất khá, đủ tiêu chuẩn nhận được học bổng của trường.

Cuối cấp, cậu dẫn đầu trong danh sách những học sinh xuất sắc của trường. Cậu thi đậu vào trường đại học danh tiếng nhất của Thủ Đô. Trong buổi lễ vinh danh những học sinh ưu tú, khi tên cậu được xướng lên đầu tiên, mẹ cậu lặng lẽ đứng ở một góc khuất, mỉm cười sung sướng.

Có một điều rất lạ rằng trên sân khấu hôm ấy, có ba bao tải dứa sù sì được đặt trang trọng ở một góc phía ngoài cùng, nơi mọi người có thể dể dàng nhìn thấy nhất. Ai cũng thắc mắc,không hiểu bên trong ấy chứa thứ gì.

Trong buổi lễ trang nghiêm ấy, thầy hiệu trưởng rất xúc động và kể lại câu chuyện người mẹ trẻ đi ăn xin nuôi con học thành tài.

Cả trường lặng đi vì xúc động. Thầy hiệu trưởng ra dấu cho thầy Hùng phòng giáo vụ đến mở ba bao tải ấy ra. Đó là ba bao gạo mà người mẹ với đôi chân tật nguyền lặn lội khắp nơi xin về.

Thầy nói:
– Đây là những hạt gạo mang nặng mồ hôi và nặng tình của người mẹ yêu con hết mực. Những hạt gạo đáng quý này, tiền, vàng cũng không thể mua nổi. Sau đây, chúng tôi kính mời người mẹ vĩ đại ấy lên sân khấu.

Cả trường lại một lần nữa lặng người đi vì kinh ngạc. Cả trường dồn mắt về phía người phụ nữ chân chất, quê mùa đang được thầy Hùng dìu từng bước khó nhọc bước lên sân khấu.

Cậu con trai cũng quay đầu nhìn lại. Cậu há hốc miệng kinh ngạc. Cậu không thể ngờ rằng người mẹ vĩ đại ấy không ai khác chính là người mẹ thân yêu của cậu.

– Chúng tôi biết, kể ra câu chuyện này sẽ khiến cậu học sinh ưu tú nhất trường bị chấn động rất mạnh về tâm lý. Thế nhưng, chúng tôi cũng mạn phép được nói ra vì đó là tấm gương sáng, tấm lòng yêu thương con vô bờ bến của người mẹ. Điều đó hết sức đáng quý và đáng được trân trọng vô cùng. Chúng tôi muốn thông qua câu chuyện cảm động này, giáo dục các em học sinh thân yêu của chúng ta về đạo đức và lối sống, về tình người và những nghĩa cử cao đẹp. Hôm nay, một lần nữa chúng ta vinh danh những người cha, người mẹ đã cống hiến, hy sinh cả đời mình vì tương lai con em…

Giọng thầy hiệu trưởng đều đều, ấm áp và hết sức xúc động. Tai cậu ù đi, cậu chẳng nghe thấy gì nữa cả,mắt cậu nhòe nước. Mẹ cậu đứng đó, gầy gò, khắc khổ, mái tóc đã sớm điểm bạc, mắt bà cũng chan chứa niềm hạnh phúc và ánh mắt ấm áp, yêu thương ấy đang hướng về phía cậu với cái nhìn trìu mến.

Người phụ nữ ấy run run vì chưa bao giờ đứng trước đám đông. Run run vì những lời tốt đẹp mà thầy hiệu trưởng đã giành cho mình. Với chị, đơn giản, tất cả chỉ xuất phát từ tình yêu bao la mà chị giành cho con trai. Chị không nghĩ được thế nào là sự hy sinh hay đạo lý lớn lao ấy.

Cậu con trai cao lớn đứng vụt dậy, chạy lên ôm chầm lấy mẹ mà mếu máo khóc thành tiếng:

– Mẹ ơi ! Mẹ của con…
Nguồn: Sưu Tầm

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Mẹ Ghẻ Con Chồng

Năm nay nó vừa tròn sáu tuổi, một thằng nhóc lầm lì, ít nói. Mái nhà tranh lụp xụp nằm hiu quạnh giữa đồng là nơi chui ra chui vào của hai cha con. Từ nhỏ, đã nhiều lần nó gặng hỏi cha, rằng má đâu. Nhưng câu trả lời khi là một ánh nhìn xa xăm lên bầu trời, khi chỉ là một làn khói thuốc toả bay, khi lại là vẻ mặt trầm ngâm đầy khắc khổ. Rồi dạo nọ, dưới ánh trăng rằm, cha nó chỉ tay lên trời, chỗ những chòm sao lung linh đang toả sáng. Má con đó!

– À té ra má con ở trên trời. Dzậy mà bữa giờ cha không nói.

Nó nhìn đăm đắm lên trời, cố hướng mắt nhìn rõ nơi má nó đang đứng. Ra vẻ thích thú. Một chốc, rồi mặt xị xuống

– Cha ơi, sao má không xuống đây chơi với con.
– Con phải thiệt ngoan. Lớn lên, cha sẽ kêu má zìa. Nghen!

Vừa dứt lời, người đàn ông vội đưa tay lên dụi mắt, ngăn dòng lệ chực trào. Đã gần sáu năm rồi, kể từ ngày má nó bỏ hai cha con mà đi. Hình ảnh xưa cũ hiện về. Mùa mưa lũ, nước trắng xoá phủ khắp cánh đồng. Gia đình ba người lái ghe vào bờ tránh lũ. Bỗng ghe gặp vòng xoáy, chìm xuống. Trong cơn hoảng loạn, ông chỉ kịp với lấy thằng bé đang khóc thét. Dòng nước dữ đã cuốn người vợ thân yêu của ra xa rồi chìm nghỉm. Hình ảnh lưu lại chỉ là một cái với tay vô vọng.

Sáu năm trôi qua, ông một mình nuôi con. Cảnh gà trống nuôi con, vừa làm cha, vừa làm má. Gánh nặng mưu sinh đã hằn những nếp nhăn trên gương mặt hốc hác. Thương thằng nhỏ không được lớn lên trong tiếng ru ầu ơ như chúng bạn, thương bản thân thiếu hơi ấm một người đàn bà. Nhiều đêm, ông nằm trằn trọc tới sáng. Dẫu vậy, chưa một lần ông nghĩ tới chuyện đi thêm bước nữa. Vì hình ảnh người vợ quá cố vẫn là điều không thể thay thế trong trái tim ông.

Rồi một ngày, nó về nhà, người lem luốc như vừa cày xong thửa ruộng.

– Mấy đứa trong xóm dám kêu má con chết rồi. Con kêu má đang ở trên trời mà không đứa nào thèm tin. Còn cười nữa :(

Nó vừa kể, vừa đưa tay quệt ngang giọt mồ hôi trên trán.

– Ít bữa cha dắt má về chơi với con, cho tụi nó biết tay, cha heng.

Cha nó không nói gì, chỉ gật gật. Tối đến, ông bắt gặp nó đang hứng xô nước, rồi ngồi thủ thỉ, chốc chốc lại ụp mặt vào xô. Thấy ông, mặt nó rạng rỡ, khoe vội.

– Con đang ngồi nói chuyện với má nè cha. Rồi nó chỉ tay. Má nè. Ông ngoại nè. Bà ngoại nè.

Cúi mặt xuống, ông chỉ kịp thấy mặt trăng và những ánh sao đang nhảy múa xập xình trong xô nước.

Ngày kia, khi mặt trời chưa kịp qua cây sào, cha nó bước về nhà, tay dắt theo một người đàn bà.

– Tèo! Ra đây coi cha đem má zìa cho con nè!

Đang ngái ngủ, nhưng nó vẫn kịp nhận ra người này

– Cha xạo con. Đây là dì Bảy. Không phải má!

Rồi nó vọt chạy ra vào trong nhà, úp mặt xuống gối, khóc nứ nở. Nó có lần gặp dì Bảy ở đầu xóm. Nghe nói Dì ở một mình, tính hiền lành tốt bụng. Nhưng hôm nay tự nhiên thấy ghét dì quá chừng, ghét cả cha nữa. Nghĩ tới má đang ở trên trời, nó chỉ muốn chạy lên ôm chầm lấy má mà khóc. Hơi ấm người mẹ là điều quá xa xỉ với nó ngay lúc này.

Từ ngày nhà có thêm người, nó suốt ngày chỉ ngồi ru rú trong phòng. Chỉ đến tối mới chịu ra ngoài, ngước lên trời nói chuyện với má. Dì Bảy càng tỏ ra quan tâm, nó càng không đoái hoài. Dì ra chợ sắm cho nó bộ áo đẹp, nó chẳng thèm đụng tới Bữa ăn, nó chỉ ăn cơm trắng. Dì gắp miếng cá vào chén, nó vùng vằng hất tung chén, cơm vung vãi khắp nơi.

– Dì không phải má con!

Rồi bỏ vào phòng, mặc kệ cha và dì đứng sau với ánh mắt ái ngại. Cái cảm giác bị cha phản bội cứ bám theo nó như hình với bóng.

Tụi nhỏ trong xóm không biết học từ đâu, suốt ngày rêu rao

Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì Bảy lại thương thằng Tèo

Vậy mà nó chẳng thèm đuổi đánh tụi nó như bình thường. Vì nghe người ta nói cha đem dì Bảy về làm mẹ ghẻ nó. Càng nghĩ, càng thấy tủi thân.

*****************

Người đàn ông vừa châm điếu thuốc, vừa thở dài đầy mệt mỏi. Thương con thiếu hơi ấm một người mẹ. Vậy mà từ ngày nhà có thêm bóng dáng một người đàn bà, tình cảm cha con dường như có một bức tường vô hình ngăn cách.
Nhìn thái độ thằng Tèo đối xử với dì Bảy, ông không nỡ trách con mình. Số ông lận đận một đời, chỉ mong sao sau này thằng Tèo lớn lên, nó sẽ hiểu cảm giác của ông lúc này.
 
Mẹ ghẻ con chồng

Thương cảnh hai cha con sống thui thủi một mình giữa đồng, hoàn cảnh mình cũng đơn chiếc, nhận lời góp gạo thổi cơm chung. Xóm làng dị nghị, lời ra tiếng vào. Cả đời khổ cực, khổ thêm nữa cũng chịu được. Chỉ mong một lần được cảm nhận hơi ấm tình thương gia đình.

*****************

Vừa nghĩ, dì Bảy vừa tranh thủ hâm nóng lại thức ăn, sợ tối Tèo tỉnh dậy đói bụng, còn có cái ăn. Mấy hôm nay nó chẳng ăn uống gì ra hồn.

Đêm về khuya, gió lạnh thổi về buốt cả con tim. Tiếng con quốc kêu gọi bầy càng khiến khung cảnh trở nên thê lương, buồn da diết. Một mái nhà nhỏ, ba con người, ba tâm trạng khác nhau. Mọi thứ vẫn còn quá bỡ ngỡ.

Mùa lũ. Nước từ thượng nguồn đổ về, cuốn hết tất cả những gì ngang qua. Người người ai nấy lo ràng buộc lại nhà cửa, phòng khi nước lên đột ngột, không kịp trở tay. Đêm đến, cả cánh đồng phủ một màu trắng xoá toàn nước là nước. Người đàn ông chạy vội từ sau hè vào

– Chắc phải vào trong xóm trú thôi, ở ngoài này e không ổn.

Giọng trầm đục của người đàn ông bị át bởi tiếng hú của gió bão, tiếng rít ầm ầm của dòng nước chảy xiết. Ba người vội vàng thu gom đồ đạc, khép nép bước lên chiếc ghe đã buộc sẵn phía trước nhà. Ghe bơi được nửa chặng thì vướng vào thân cây trôi dạt từ phía thượng nguồn. Đang loay hoay gỡ ra thì bỗng một con gió to ào tới, chiếc ghe lật nhào, cuốn ba người xuống nước. Nó bị cuốn theo dòng nước dữ. Nhanh như cắt, cha và dì Bảy bơi vội theo…

Biết bao nhiêu cánh rừng bạt ngạt đã bị thiêu huỷ dưới bàn tay con người. Giờ đây con người phải gánh chịu hậu quả do chính họ gây ra. Hối hận có lẽ đã quá muộn.

Tỉnh dậy, bên tai vẫn còn tiếng kêu thảng thốt của cha. Mắt nó nhoà đi, bụng cồn cào khó chịu. Kịp nhận ra hai cha con đang nằm trên bãi cỏ cạnh bờ đê. Không có dì Bảy. Qua lời kể trong tiếng nấc nghẹn của cha. Khi nó sắp chìm vào dòng nước, dì Bảy kịp với tay chụp lấy chân nó. Hai dì cháu vật lộn một hồi chiến đấu với cơn lũ. Chưa kịp bơi tới bờ thì dì kiệt sức. Cũng may cha nó kịp ôm nó vào. Còn dì…

Lặng nhìn khung cảnh trắng xoá. Giọng nó yếu dần

– Dì ơi…

Nguồn: Sưu Tầm